

Chỉ thực · Zhi Shi
Citrus aurantium L. · Quả non phơi/sấy khô
Tên và bộ phận dùng
Chỉ thực là quả non của Citrus aurantium hoặc nguồn Citrus được tiêu chuẩn chuyên luận chấp nhận, thu trước khi lớn. Cây thường xanh có lá thơm, cuống lá có cánh hẹp, hoa trắng và quả cam. Chỉ thực khô thường là nửa quả hoặc lát dày, cứng, nâu lục/nâu sẫm, mặt cắt có vỏ dày và khoang múi chưa phát triển; khác Trần bì là vỏ quả chín.
Bối cảnh cổ truyền
Trong lý luận Đông y, Chỉ thực được mô tả là đắng, cay, hơi hàn; dùng trong phối ngũ để giáng khí, tiêu bĩ và hóa tích ở thể được biện chứng. Không phải thuốc giảm cân hay điều trị đầy bụng thường quy.
Bằng chứng hiện đại
Citrus aurantium products can contain synephrine; research and risk vary by extract, dose, and co-ingredients. Whole immature fruit is not interchangeable with stimulant-rich supplements. Evidence for the fruit in traditional preparations is not equivalent to weight-loss efficacy.
An toàn
Thận trọng với tăng huyết áp, rối loạn nhịp tim, bệnh mạch vành, cường giáp, thai kỳ và các thuốc kích thích/thuốc tim mạch. Không phối với caffeine liều cao hoặc sản phẩm giảm cân không rõ thành phần. Cần định danh quả đúng loài.
Phối hợp trong tài liệu
Chỉ thực có trong Chỉ thực tả bạch quế chi thang cùng Hậu phác, Xạ bạch (Allium macrostemon), Quế chi và Qua lâu. HKBU ghi Chỉ thực 4 quả (12 g), Hậu phác 12 g, Xạ bạch 9 g, Quế chi 6 g, Qua lâu 1 quả (12 g); lượng của một hồ sơ cổ, không hướng dẫn tự phối.
Sinh trưởng và sinh cảnh
Citrus aurantium trồng ở vùng cận nhiệt đới ấm, đất sâu thoát nước, nắng đầy đủ; cây non cần tưới đều, cây trưởng thành chịu hạn ngắn nhưng không chịu úng. Tỉa tán để thông khí và hạn chế sâu bệnh.
Trồng, chăm sóc và thời gian thu hái
Hồ sơ bên trên có hướng dẫn theo từng bước và mốc thu hoạch được nguồn ghi nhận. Mốc thu hái là dữ liệu nông học, không phải hướng dẫn tự dùng.
Tự trồng và chăm sóc
- Chọn cây ghép có nhãn Citrus aurantium/giống phù hợp; không dùng cây “cam đắng” không rõ loài.
- Trồng cây con nơi nắng, đất thoát nước, đầu mùa mưa hoặc mùa mát; đặt cổ rễ ngang mặt đất và chừa không gian tán.
- Tưới sâu khi mới trồng, phủ gốc cách thân; bón hữu cơ hoai theo nhu cầu đất và tránh phân đậm đặc chạm rễ.
- Tỉa cành khô/chồng chéo, theo dõi sâu vẽ bùa, rệp và bệnh vàng lá; vệ sinh dụng cụ giữa cây bệnh.
- Chỉ thu quả non đúng giai đoạn, không suy lịch quả chín của cam/quýt sang Chỉ thực; ghi ngày, vị trí và mức phát triển quả.
- Sơ chế, sấy và lưu lô sạch theo chuẩn dược liệu; không tự dùng sản phẩm như thuốc giảm cân.
Bao lâu mới thu dùng được? Nguồn trồng trọt đã rà soát không xác lập số tháng chung để thu Chỉ thực; thời gian phụ thuộc giống Citrus, gốc ghép, vùng khí hậu và tiêu chuẩn độ non. Chỉ thu khi quả đạt giai đoạn non được chuyên luận địa phương mô tả.
Phối hợp có ghi trong tài liệu: Chỉ thực tả bạch quế chi thang
HKBU mô tả theo lý luận cổ: thông dương, tán kết, hóa đàm và giáng khí trong thể hung tý được biện chứng; đau ngực cấp là cấp cứu, không tự dùng bài thuốc.





Tỷ lệ ghi trong nguồn: HKBU ghi lần lượt 4 quả/12 g : 12 g : 9 g : 6 g : 1 quả/12 g. Chỉ thực và Qua lâu còn ghi lượng theo quả; không chuyển thành liều cá nhân.
Lưu ý: Hồ sơ cổ không đánh giá tim mạch, thai kỳ hay thuốc đang dùng. Không tự phối; cần đánh giá y tế với đau ngực/khó thở.
Mở hồ sơ bài thuốc ↗Cặp bị ghi nhận là độc
Chưa tìm thấy nguồn xác nhận cặp Chỉ thực với một vị cụ thể là độc. Nguy cơ đáng chú ý là sản phẩm cam đắng cô đặc phối chất kích thích/thuốc tim mạch; không suy đó thành một cặp dược liệu cổ luôn độc.
TỪ CÂY / SINH CẢNH ĐẾN DƯỢC LIỆU KHÔ · QUY TRÌNH THAM KHẢO
- Thu quả xanh non theo mùa và tiêu chuẩn vùng trồng, trước khi múi phát triển; phân loại quả lành, bỏ quả sâu hoặc dập.
- Rửa nhanh, bổ đôi hoặc thái lát dày đồng đều theo quy trình cơ sở; không trộn quả chín dùng làm Trần bì.
- Sấy/phơi trên khay sạch, thông khí đến khi lát cứng và khô lõi; kiểm soát bụi, nấm và tồn dư thuốc trừ sâu.
- Đóng kín tránh ẩm; lưu tên khoa học, độ non khi thu, cách sơ chế và mã lô.
Các bước là tổng quan sơ chế sau thu hoạch, không phải hướng dẫn tự bào chế để uống. Nguồn quy trình ↗
Cách đọc lượng phối hợp
Lượng hiển thị là bản ghi của đúng bài thuốc và nguồn được dẫn, không phải tỷ lệ an toàn chung, liều điều trị hay chỉ dẫn tự sắc. Không chuyển lượng của bài này sang bài khác hoặc tự thay đổi theo cân nặng.