← Quay lại danh sách dược liệuHỒ SƠ HỌC TẬP
MINH HỌA AI · KHÔNG DÙNG ĐỊNH DANH MẪU THẬT
蒼朮 · Cang Zhu

Thương truật · Cang Zhu

Atractylodes lancea (Thunb.) DC. · Thân rễ khô

Tên và bộ phận dùng

Thương truật trong hồ sơ này là Atractylodes lancea; một số dược điển còn chấp nhận A. chinensis, nên cần ghi rõ nguồn loài. Cây cỏ lâu năm họ Cúc, thân rễ sẫm màu có mùi thơm mạnh; lá thay đổi hình dạng theo vị trí, mép có răng nhọn, cụm hoa đầu nhỏ màu trắng. Thân rễ khô hình trụ gấp khúc, nâu xám đến nâu vàng; lát cắt có các chấm tiết dầu vàng cam/nâu, đôi khi xuất hiện tinh thể trắng khi bảo quản lâu. Không nhầm với Bạch truật Atractylodes macrocephala: hai dược liệu khác loài và tiêu chuẩn.

Bối cảnh cổ truyền

Đông y cổ mô tả vị cay, đắng, tính ấm; thường xếp vào nhóm hóa thấp và kiện tỳ trong một số thể thấp trệ. Hậu phác, Trần bì và Cam thảo phối trong Bình vị tán theo hồ sơ cổ, nhưng bài thuốc không phải cách điều trị phổ quát cho đầy bụng hay tiêu chảy. Đây là khái niệm biện chứng truyền thống, không thay chẩn đoán bệnh tiêu hóa.

Bằng chứng hiện đại

Cơ sở dữ liệu dược liệu của Đại học Trung y Dược Thành Đô ghi thân rễ khô từ A. lancea/A. chinensis và các mô tả truyền thống; nghiên cứu hóa thực vật về tinh dầu chưa xác lập hiệu quả điều trị lâm sàng. Sơ chế làm thay đổi thành phần bay hơi; không suy từ hoạt tính trong ống nghiệm sang công dụng ở người.

An toàn

Tinh dầu và vị cay có thể gây kích ứng tiêu hóa; dùng kéo dài hoặc liều cao không nên tự ý. Người khô miệng, táo bón, mất nước, đang mang thai/cho con bú, có bệnh nền hoặc dùng thuốc cần hỏi chuyên gia. Không tự thu thân rễ rừng: đất bẩn, nhầm Bạch truật và tồn dư là rủi ro; không có một cặp phối hợp được nguồn rà soát xác nhận chắc chắn là độc.

Phối hợp trong tài liệu

Bình vị tán theo HKBU ghi Thương truật 4 lượng (120 g), Hậu phác đã chế gừng 3 lượng (90 g), Trần bì 2 lượng (60 g), Cam thảo chích mật 1 lượng (30 g); khối lượng tương đối là 4:3:2:1. Công thức nguồn còn hướng dẫn xay bột và dùng cùng Sinh khương, Đại táo, nhưng đây chỉ là ghi chép lịch sử, không phải liều hiện đại. Không có bằng chứng công thức này phù hợp mọi người đau bụng.

Sinh trưởng và sinh cảnh

Cây sinh trưởng ở sườn đồi, bụi cây và đồng cỏ vùng ôn đới Đông Á; hồ sơ dược liệu ghi các vùng sản xuất ở Giang Tô, Hồ Bắc, Hà Nam, An Huy và Chiết Giang. Cây ưa mát, chịu lạnh và hạn ngắn, nhưng kỵ ngập; đất thoát nước và mùa đông nghỉ sinh trưởng giúp thân rễ phát triển.

Trồng, chăm sóc và thời gian thu hái

Hồ sơ bên trên có hướng dẫn theo từng bước và mốc thu hoạch được nguồn ghi nhận. Mốc thu hái là dữ liệu nông học, không phải hướng dẫn tự dùng.

Tự trồng và chăm sóc

  1. Nhân bằng hạt đã xử lý hoặc chia thân rễ từ cây mẹ được định danh; sát trùng dụng cụ khi chia để tránh lây bệnh.
  2. Làm luống cao, trộn đất vườn với mùn hoai và vật liệu thoáng; tránh đất sét nặng. Đặt cây nơi có nắng nhẹ đến nắng đầy đủ vùng mát.
  3. Tưới sau trồng, sau đó tưới khi lớp đất mặt khô; không để nước đọng quanh gốc.
  4. Bổ sung phân hữu cơ hoai đầu mùa, làm cỏ nông; tránh xới sâu gây đứt thân rễ.
  5. Theo dõi sên, rệp và bệnh nấm; loại bỏ lá bệnh, cải thiện thông khí và không tưới lên tán chiều tối.
  6. Không thu thân rễ non. Thu vào mùa thu khi phần trên mặt đất suy tàn hoặc theo lịch vùng trồng; làm sạch đất và phơi/sấy nhanh, khô đều.

Bao lâu mới thu dùng được? Nguồn thực vật tại Đại học Y học cổ truyền Thiên Tân ghi đào thân rễ vào đầu tháng 11 hoặc tháng 2–3 năm sau; đây là lịch vùng trồng Trung Quốc, không phải hẹn chính xác cho khí hậu Việt Nam. Cây lâu năm cần nhiều mùa sinh trưởng; nguồn mở đã rà soát không chốt một tuổi thu chung. Thu khi thân rễ đạt tiêu chuẩn chất lượng và cây đã qua chu kỳ phát triển đủ tại vùng trồng.

Nguồn sinh trưởng / canh tác ↗

Phối hợp có ghi trong tài liệu: Bình vị tán

HKBU nêu đây là phương thang cổ hóa thấp, điều hòa tỳ vị theo biện chứng. Đầy bụng kéo dài, đau dữ dội, nôn ra máu hoặc sụt cân cần khám thay vì tự dùng.

Tỷ lệ ghi trong nguồn: Tỷ lệ theo hồ sơ HKBU: 120:90:60:30 g, rút gọn 4:3:2:1. Đây là khối lượng một bản phương cổ, không phải liều điều trị cá nhân; bản nguồn còn mô tả dùng kèm Sinh khương và Đại táo.

Lưu ý: Không tự pha bài thuốc từ tỷ lệ này; cần chuyên gia đánh giá thể bệnh, thuốc đang dùng và chất lượng dược liệu.

Mở hồ sơ bài thuốc ↗

Cặp bị ghi nhận là độc

Không có nguồn đã rà soát chứng minh một phối hợp Thương truật cụ thể là độc. Cảnh báo thực hành là kích ứng do tinh dầu, dùng sai loài, chất lượng kém và tự phối kéo dài; không suy ra “không có cảnh báo” nghĩa là an toàn.

TỪ CÂY / SINH CẢNH ĐẾN DƯỢC LIỆU KHÔ · QUY TRÌNH THAM KHẢO

  1. Dùng hạt hoặc cây giống Atractylodes lancea có truy xuất; không gieo cây không rõ loài vì dễ lẫn với A. macrocephala.
  2. Chọn khí hậu mát, đất nhẹ thoát nước, hơi chua đến trung tính; luống cao giúp giảm thối thân rễ. Trồng đầu mùa mưa hoặc xuân địa phương.
  3. Tưới vừa đủ, giữ ẩm nhưng không úng; phủ gốc hữu cơ sạch và làm cỏ nông để tránh tổn thương thân rễ.
  4. Bón phân hoai lượng vừa; không lạm dụng đạm. Theo dõi đốm lá, thối rễ và loại cây bệnh khỏi luống để giảm lây lan.
  5. Giữ khoảng cách thông thoáng; tỉa cành gãy, luân canh nếu bệnh đất tái diễn. Không thu hái tự phát cây mọc hoang.
  6. Khi cây trưởng thành theo tiêu chuẩn vùng, đào thân rễ vào mùa thu hoặc cuối đông/đầu xuân; lưu mẫu đối chiếu loài và hồ sơ lô.

Các bước là tổng quan sơ chế sau thu hoạch, không phải hướng dẫn tự bào chế để uống. Nguồn quy trình ↗

Nguồn định danh ↗

Cách đọc lượng phối hợp

Lượng hiển thị là bản ghi của đúng bài thuốc và nguồn được dẫn, không phải tỷ lệ an toàn chung, liều điều trị hay chỉ dẫn tự sắc. Không chuyển lượng của bài này sang bài khác hoặc tự thay đổi theo cân nặng.

← Quay lại danh sách dược liệu ↗